Biệt thự 2 tầng 4 phòng ngủ là cấu hình quen thuộc của gia đình nhiều thế hệ: ông bà ở tầng một cho đỡ phải lên xuống cầu thang, vợ chồng và các con ở tầng hai. Bài này gom những mẫu Betaviet đã thiết kế, mỗi mẫu có mã công trình, tỉnh, phong cách và diện tích ghi trong dữ liệu dự án. Kèm theo là ba cách chia 4 phòng ngủ (1:3, 0:4, 2:2), mặt bằng ví dụ, lưu ý khi thiết kế và các câu hỏi chủ nhà hay hỏi. Hình trong bài là phối cảnh thiết kế.

KT20011 – biệt thự tân cổ điển 2 tầng 4 phòng ngủ tại Lâm Đồng
Trả lời nhanh: cùng là 4 phòng ngủ nhưng chia theo ba kiểu. Kiểu 1:3 (một phòng ngủ tầng một, ba phòng ngủ tầng hai) hợp nhà có ông bà. Kiểu 0:4 (cả bốn phòng ngủ ở tầng hai) hợp nhà muốn các thành viên ở gần nhau. Kiểu 2:2 hiếm hơn, đòi hỏi khu đất và diện tích sàn đủ rộng. Các mẫu trong bài thuộc nhóm công trình lớn, diện tích từ 411 đến 758 m².
Bốn phòng ngủ là con số vừa đủ cho một gia đình ba thế hệ: một phòng cho ông bà, một phòng cho vợ chồng, hai phòng cho các con, hoặc một phòng dành cho khách và người thân từ xa đến ở. Với nhà hai tầng, số phòng này chia được trên cả hai tầng mà không phải kéo thêm tầng áp mái, nên cầu thang vẫn ngắn và việc đi lại của người lớn trong nhà vẫn dễ.
Điều cần cân nhắc ngay từ đầu là diện tích. Bốn phòng ngủ cộng phòng khách, bếp, ăn, vệ sinh và gara chỉ đặt vừa trong hai tầng khi mỗi tầng đủ rộng. Diện tích xây dựng các mẫu trong bài từ 411 đến 758 m². Vì vậy bài này nói về biệt thự trên khu đất rộng, đầu tư lớn, không bàn đến nhà nhỏ hay phương án cắt giảm.
Phần lớn biệt thự 2 tầng thuộc ba nhóm: cổ điển, tân cổ điển và hiện đại.
Cổ điển lấy cảm hứng từ lâu đài, dinh thự châu Âu, nhiều chi tiết trang trí, cột lớn, phào chỉ dày. Bề mặt kiến trúc phức tạp nên khó giữ sạch và tốn công thi công.
Tân cổ điển giữ tỷ lệ, cột, phào chỉ và mái của kiến trúc cổ điển nhưng giản lược chi tiết, nên mặt tiền thanh hơn. Trong bài có KT24733, KT20011, KT22112 và KT22128 thuộc nhóm này.
Hiện đại dùng khối vuông vắn, mảng kính lớn, ốp đá và gỗ, ít phào chỉ. Trong bài có KT2009143 ở Thanh Hóa thuộc nhóm này.
Nên chốt cách chia phòng ngủ trước, phong cách sau. Mặt bằng quyết định ngôi nhà ở có tiện hay không, còn phong cách chỉ là lớp áo bên ngoài và có thể đổi nhiều hơn. Khi đã có mặt bằng, kiến trúc sư dựng mặt tiền theo phong cách chủ nhà thích, từ tân cổ điển đến hiện đại, mà không phải vẽ lại công năng.
Phòng ông bà đặt ở tầng một, gần phòng vệ sinh, lối đi phẳng, có cửa sổ nhìn ra sân hoặc vườn. Nên chọn giường không quá cao, tủ và kệ treo vừa tầm với.
Phòng master của vợ chồng là phòng rộng nhất, có WC riêng và thường kèm khu thay đồ hoặc góc làm việc nhỏ. Có ban công riêng thì phòng này thêm một chỗ ngồi yên tĩnh buổi sáng.
Hai phòng của con nên đặt gần nhau và gần phòng bố mẹ khi con còn nhỏ. Khi con lớn, hai phòng có thể dùng chung một phòng học hoặc phòng sinh hoạt ở giữa, về sau hai phòng này đổi thành phòng làm việc hoặc phòng đọc sách cũng không phải sửa nhiều.
Nếu cần thêm một phòng cho khách, hãy tính từ đầu để phòng đó vẫn có WC gần, không phải đi qua phòng riêng của người khác.
Tỷ lệ viết theo thứ tự tầng một rồi tầng hai. Ba cách chia cho ra ba kiểu sống khác nhau, nên đáng chọn cẩn thận trước khi vẽ mặt tiền.
| Cách chia | Tầng 1 | Tầng 2 | Vệ sinh | Hợp với |
|---|---|---|---|---|
| 1:3 | 1 phòng ngủ cho ông bà, cạnh phòng khách | 3 phòng ngủ | Tầng 1 dùng chung 1 phòng, các phòng tầng 2 khép kín | Nhà có ông bà, muốn người lớn không phải lên cầu thang |
| 0:4 | Không có phòng ngủ, dành cho khách, bếp, ăn và sinh hoạt chung | 4 phòng ngủ và phòng sinh hoạt chung | 3 phòng ngủ khép kín, 1 phòng dùng vệ sinh chung của tầng | Nhà muốn mọi người ngủ cùng tầng, dễ chăm sóc nhau |
| 2:2 | 2 phòng ngủ | 2 phòng ngủ | Cần tính kỹ vị trí từng khu vệ sinh | Khu đất rộng, diện tích sàn lớn, nhu cầu riêng của từng nhóm |
Một phòng ngủ ở tầng một, ba phòng ngủ ở tầng hai. Phòng tầng một thường dành cho ông bà để đi lại thuận tiện, còn ba phòng tầng hai chia cho vợ chồng và các con. Phòng ngủ tầng một nên tách khỏi khu vệ sinh chung của tầng, đồng thời gần cầu thang và phòng khách để người trong nhà dễ đến. Các phòng ngủ tầng hai nên khép kín, có vệ sinh riêng.

Mặt bằng tầng 1 của một biệt thự vườn có một phòng ngủ ở tầng một
Trong mặt bằng tầng một ở trên, phòng khách, phòng ăn và bếp nằm liền nhau thành một khối rộng, phòng ngủ tầng một nằm cạnh cầu thang với một WC ngay sát bên, gara có mái đặt ở sân trước. Khuôn đất có cổng chính, cổng phụ và vườn cây phía trước, mật độ xây dựng chỉ khoảng 35%, nên các phòng ngủ tầng hai nhìn ra sân vườn bao quanh nhà. Đây là kiểu biệt thự vườn: phần lớn diện tích đất dành cho sân và cây xanh.

Mặt bằng tầng 2 của cùng biệt thự vườn
Hai mặt bằng này thuộc một mẫu có 3 phòng ngủ: một phòng ở tầng một và hai phòng ở tầng hai. Chúng chỉ minh họa cách bố trí theo kiểu 1:x, không phải bản vẽ đủ 4 phòng; muốn đủ 4 phòng, tầng hai thêm một phòng ngủ theo cùng nguyên tắc. Ở tầng hai, phòng ngủ master có WC riêng kèm bồn tắm và ban công, phòng còn lại dùng chung khu WC cạnh cầu thang. Hành lang chạy giữa hai khối, ba ban công và một sân phơi giúp từng phòng đón được ánh sáng, không khí từ bên ngoài.
Tầng một không có phòng ngủ, cả bốn phòng ngủ nằm ở tầng hai. Tầng một dành trọn cho phòng khách, bếp, ăn và các không gian sinh hoạt chung, tầng hai là khu ngủ nghỉ yên tĩnh, tách hẳn với chỗ tiếp khách. Các thành viên cùng một tầng nên dễ chăm sóc nhau: con cái gần bố mẹ, bố mẹ dễ để mắt đến con.
Thường tầng hai có thêm một phòng sinh hoạt chung để cả nhà trò chuyện trước khi về phòng riêng. Với bốn phòng ngủ trên một tầng, ba phòng nên có WC khép kín, phòng còn lại dùng WC chung của tầng đặt gần cầu thang. Nhà có sân chơi hoặc sân thượng rộng thì đặt bàn trà ở đó làm nơi ngồi chung buổi tối.
Điểm yếu của cách chia này là ông bà phải lên tầng hai. Nếu trong nhà có người lớn đi lại khó, cần tính thang máy hoặc chuyển sang cách chia 1:3.
Hai phòng ngủ ở tầng một, hai phòng ngủ ở tầng hai. Cách này ít gặp, thường theo yêu cầu riêng của chủ nhà, và để làm được cần tính rất kỹ các phòng chức năng còn lại, vì tầng một vừa phải chứa hai phòng ngủ vừa phải giữ phòng khách, bếp, ăn và gara trong cùng một khối.
Với cách chia 1:3, tầng một có phòng khách, bếp, ăn, một phòng ngủ, một WC chung và gara hoặc chỗ để xe. Với cách chia 0:4, tầng một rảnh hơn nên có thể làm phòng ăn rộng, bếp phụ, phòng làm việc hoặc phòng tiếp khách tách riêng. Khi tầng một có thêm phòng chức năng, vị trí cầu thang cần cân nhắc để khách đến nhà không phải đi qua khu riêng của gia đình.
Nếu nhà có ông bà ở thường xuyên, chọn 1:3. Nếu nhà cần các phòng ngủ ở gần nhau và tầng một dành cho tiếp khách, chọn 0:4. Cách 2:2 chỉ nên làm khi diện tích sàn đủ lớn và kiến trúc sư đã thử qua hai phương án còn lại. Khi chưa chắc, hãy để kiến trúc sư vẽ mặt bằng song song theo hai cách rồi so sánh khoảng đi lại, độ riêng tư và lượng ánh sáng của từng phòng.
Số liệu dưới đây lấy từ dữ liệu dự án và bản mô tả công trình của Betaviet. Ô nào chưa có số công bố thì ghi “chưa ghi”, không ước chừng.
| Mã | Tỉnh | Phong cách | Diện tích và mặt tiền | Phòng ngủ theo mô tả |
|---|---|---|---|---|
| KT24733 | Hải Dương | Tân cổ điển, mái Mansard | 648 m², mặt tiền chưa ghi | 4 phòng ngủ |
| KT20011 | Lâm Đồng | Tân cổ điển | 466 m², mặt tiền 19 m × 12,7 m | 4 phòng ngủ |
| KT22112 | Thái Bình | Tân cổ điển | 415 m², mặt tiền 13 m × 14,4 m | 4 phòng ngủ |
| KT22128 | Quảng Ninh | Tân cổ điển | 758 m², mặt tiền chưa ghi | 4 phòng ngủ |
| KT2009143 | Thanh Hóa | Hiện đại, mái Nhật | 411 m², mặt tiền 12,2 m × 11,9 m; tầng 1: 139,5 m² và 12 m² sảnh; tầng 2: 139,5 m² và 10 m² ban công | 1 phòng tầng 1, 3 phòng tầng 2 |
Có hai điều đáng để ý khi đọc bảng. Thứ nhất, cả năm mẫu đều có đúng 4 phòng ngủ; KT2009143 là mẫu duy nhất trong bài ghi rõ cách chia từng tầng, và đó là kiểu 1:3. Thứ hai, diện tích xây dựng từ 411 đến 758 m², đủ rộng để bốn phòng ngủ, phòng khách, bếp, ăn và gara nằm gọn trong hai tầng mà không cần kéo thêm tầng.
Tân cổ điển giữ cột, phào chỉ, mái dốc và bố cục đối xứng của kiến trúc châu Âu, nhưng làm gọn chi tiết để mặt tiền đỡ nặng. Xem thêm các mẫu cùng nhóm ở trang biệt thự 2 tầng tân cổ điển.
Khối nhà trắng, mái ngói chàm bốn mái với hai cửa sổ áp mái nhỏ. Diện tích 466 m², mặt tiền 19 m, chiều sâu 12,7 m, bố trí 4 phòng ngủ. Sảnh vào là một ô vòm, hai cặp cột đôi đỡ ban công tầng hai có lan can con tiện, bậc thang rộng dẫn lên. Quanh nhà là sân cỏ, lối đi lát đá và cây xanh. Mặt tiền rộng hơn chiều sâu, nên các phòng ở phía trước dễ có cửa sổ hoặc ban công nhìn ra sân. Xem trang dự án KT20011.
Mẫu tân cổ điển tường trắng, mái ngói xanh đen có cửa sổ áp mái ở đầu hồi. Diện tích 415 m², mặt tiền 13 m, chiều sâu 14,4 m, bố trí 4 phòng ngủ. Hai cột tròn lớn chạy thông hai tầng hai bên cửa chính gỗ, tầng hai có ban công lan can sắt uốn hoa văn và cửa sổ vòm cao. Mặt tiền gần vuông nên khối nhà gọn, các mặt bên đều có thể mở cửa sổ. Trong phối cảnh, bên trái sân có thêm một nhà mái ngói đỏ riêng. Xem trang dự án KT22112.

KT22112 – biệt thự tân cổ điển 2 tầng 4 phòng ngủ tại Thái Bình
Mẫu có diện tích 758 m², lớn nhất trong bài, bố trí 4 phòng ngủ. Phối cảnh nhìn dọc mặt phố: khối nhà trắng mái ngói xám với hai cửa sổ áp mái, cột đôi và ban công lan can con tiện ở tầng hai. Phía bên phải nối với phần sân thượng có lan can và một đình mái nhỏ. Tường rào thấp ghép đá, cổng sắt hoa văn màu đồng và một mái che nhỏ cạnh cổng. Với khuôn đất rộng, nhà được trải ngang thay vì kéo cao. Xem trang dự án KT22128.

KT22128 – biệt thự tân cổ điển 2 tầng 4 phòng ngủ tại Quảng Ninh
Một mẫu tân cổ điển nhẹ nhàng, mang nét kiến trúc châu Âu, khối nhà cân đối, phào chỉ trang trí đơn giản. Mái Mansard phủ lên khối nhà tạo tổng thể gọn, ít cầu kỳ. Diện tích 648 m², mẫu có 4 phòng ngủ.

KT24733 – biệt thự tân cổ điển 2 tầng mái Mansard tại Hải Dương
Biệt thự hiện đại hai tầng thường có khối chữ nhật, mảng kính lớn, ốp đá và gỗ, ít phào chỉ. Mẫu dưới đây có mã, tỉnh và số đo cụ thể trên trang dự án.
Mẫu hiện đại mái Nhật, hình khối đơn giản, khỏe khoắn, có các cột ốp lớn tạo cảm giác vững chãi. Tông trắng chủ đạo kết hợp mảng tường ốp đá. Mặt tiền 12,2 m × 11,9 m, tổng diện tích 411 m².

KT2009143 – biệt thự hiện đại mái Nhật 2 tầng tại Thanh Hóa
Công năng: tầng một có khu khách, bếp ăn, một phòng ngủ, một WC và một bếp phụ. Tầng hai có một phòng ngủ master khép kín và hai phòng ngủ nhỏ dùng chung một WC.
Diện tích: tầng một 139,5 m² và 12 m² sảnh. Tầng hai 139,5 m² và 10 m² ban công. Xem trang dự án KT2009143. Mẫu mái Nhật khác có thể tham khảo ở trang biệt thự 2 tầng mái Nhật.
Mái là phần quyết định mặt tiền trông nhẹ hay nặng, và cũng là phần phải làm kỹ nhất về chống thấm. Bảng dưới gom các kiểu mái liên quan đến những mẫu trong bài.
| Kiểu mái | Đặc điểm | Mẫu trong bài |
|---|---|---|
| Mansard | Hai độ dốc, phần dưới gần dựng đứng, khoảng áp mái dùng được như một tầng; hợp tân cổ điển | KT24733 |
| Mái Nhật | Mái ngói dốc vừa phải, đường nét gọn, hợp mặt tiền hiện đại | KT2009143 |
| Mái ngói dốc nhiều mặt, có cửa sổ áp mái nhỏ | Ngói xanh đen hoặc xám, nhìn rõ trong phối cảnh; hợp tân cổ điển | KT20011, KT22112, KT22128 |
| Mái Thái | Nhiều mặt dốc xếp chồng, chi tiết cầu kỳ hơn các kiểu trên | Chưa có mẫu 4 phòng ngủ trong bài |
Với nhà trên khu đất rộng, kiểu mái nên chọn cùng lúc với cách chia phòng ngủ, vì mái Mansard thay đổi số tầng có thể dùng. Mái càng nhiều góc, chỗ giao giữa các mặt dốc càng nhiều, nên hồ sơ cần vẽ rõ chi tiết chống thấm và thoát nước. Xem thêm các mẫu ở trang mặt bằng biệt thự 2 tầng.
Nếu trong nhà có ông bà, phòng ngủ tầng một nên có WC khép kín hoặc WC liền kề, lối đi không có bậc và gần cầu thang, phòng khách để người trong nhà dễ qua lại. Cách chia 1:3 làm tốt điều này, còn cách chia 0:4 chỉ phù hợp khi ông bà đi lại thoải mái hoặc nhà có thang máy.
Bốn phòng ngủ trên hai tầng dễ bị phòng nằm giữa không có cửa sổ ra ngoài. Cách xử lý là cho phòng nào cũng có cửa sổ lớn hoặc ra ban công. Mặt bằng tầng hai ở mục 2.1 có ba ban công và một sân phơi chia cho từng khối phòng, phòng nào cũng có mặt đón ánh sáng.
Các mẫu trong bài có diện tích xây dựng từ 411 đến 758 m². KT2009143 cho một ví dụ cụ thể: 411 m² trên mặt tiền 12,2 m × 11,9 m, mỗi tầng 139,5 m². Còn mặt bằng ví dụ ở mục 2.1 là biệt thự vườn, mật độ xây dựng khoảng 35%, nhường phần lớn đất cho sân và cây xanh. Mật độ tối đa, khoảng lùi và chiều cao cho phép do cơ quan quản lý từng địa phương quy định, nên cần kiểm tra trước khi chốt mặt bằng.
Cầu thang là trục giữa nhà. Đặt cầu thang gần phòng khách và bếp thì tầng một gọn, đường lên tầng hai ngắn. Khu vệ sinh chung nên gần cầu thang, vừa dễ dùng vừa không chiếm mặt thoáng của phòng ngủ. Phòng ngủ khép kín có vệ sinh riêng thì để phía trong, tránh đặt cạnh phòng khách.
Gara có thể đặt ở tầng một ngay trong khối nhà, hoặc đặt riêng ngoài sân với mái che như ở mặt bằng biệt thự vườn mục 2.1 và mái che cạnh cổng của KT22128. Đặt trong nhà thì gọn nhưng chiếm mặt tiền tầng một. Đặt ngoài sân thì giữ được các phòng chính, nhưng cần khuôn đất đủ rộng. Sân vườn, tường rào, cổng và sân thượng cũng cần vẽ cùng lúc với nhà để mặt tiền thống nhất.
Mặt tiền hiện đại thường ghép mảng ốp đá với mảng kính lớn: kính cho nhiều ánh sáng nhưng cần tính che nắng cho phòng ngủ hướng nắng chiều. Mặt tiền tân cổ điển có nhiều phào chỉ, nên hồ sơ cần vẽ chi tiết thoát nước để vệt nước không chạy xuống mặt tường. Vật liệu mặt tiền nên chọn loại bền màu, dễ lau chùi, vì nhà 2 tầng có diện tích mặt ngoài lớn và việc bảo trì không đơn giản.
Biệt thự là loại nhà cần tính toán kết cấu, mái và hệ thống kỹ thuật kỹ hơn nhà phố. Khi chọn đơn vị thiết kế, nên xem họ đã làm bao nhiêu công trình tương tự, có mã công trình và số đo cụ thể như trong bài này không, và có dựng phối cảnh để chủ nhà duyệt trước khi triển khai hồ sơ hay không. Betaviet có dịch vụ thiết kế kiến trúc biệt thự và thiết kế nội thất biệt thự cho các công trình trên khu đất rộng.
Chủ nhà bắt đầu bằng việc gửi thông tin khu đất: kích thước, hướng, khoảng lùi và ảnh hiện trạng, cùng số thành viên trong nhà và cách chia phòng ngủ mong muốn. Kiến trúc sư đề xuất mặt bằng, có thể vẽ song song hai cách chia để so sánh, rồi dựng phối cảnh mặt tiền theo phong cách chủ nhà chọn. Chủ nhà xem phối cảnh, góp ý chỉnh phòng, cửa, ban công, mái và vật liệu, sau khi chốt thì mới triển khai hồ sơ.
Điểm cần nhớ là mặt bằng và phối cảnh được duyệt trước, rồi mới vẽ chi tiết. Chỉnh trên phối cảnh dễ hơn nhiều so với chỉnh khi đã triển khai hồ sơ. Mỗi mẫu trong bài có thể làm điểm khởi đầu: giữ khối chính, đổi số phòng, hướng mái và chi tiết cho khớp khu đất.
Mức đầu tư cho biệt thự 2 tầng 4 phòng ngủ thay đổi theo từng công trình, vì phụ thuộc vào những yếu tố sau.
Với công trình quy mô lớn, nên làm việc với đơn vị có thể bóc từng hạng mục ngay từ giai đoạn thiết kế. Cách tính ở công trình lớn hơn có thể xem thêm ở trang chi phí xây lâu đài, dinh thự.
Không có con số cố định, vì còn phụ thuộc khoảng lùi, mật độ xây dựng và quy định từng địa phương. Tham khảo từ các mẫu trong bài: diện tích xây dựng từ 411 đến 758 m², trong đó KT2009143 có mỗi tầng 139,5 m² trên mặt tiền 12,2 m × 11,9 m. Cách chắc nhất là gửi kích thước khu đất để kiến trúc sư đề xuất mặt bằng.
Chọn 1:3 nếu có ông bà ở cùng và muốn người lớn không phải lên cầu thang. Chọn 0:4 nếu muốn mọi người ngủ cùng tầng và tầng một dành cho tiếp khách, bếp, ăn. Nếu còn phân vân, nhờ kiến trúc sư vẽ cả hai rồi so sánh khoảng đi lại và ánh sáng từng phòng.
Hợp, vì có chỗ cho ông bà, vợ chồng và hai con hoặc khách ở lại. Điều cần lưu ý là phòng của ông bà ở tầng một, gần vệ sinh và có lối đi không bậc.
Nên khép kín phòng master và phòng của ông bà. Các phòng còn lại có thể dùng chung một khu vệ sinh đặt gần cầu thang, như ở KT2009143 với hai phòng ngủ nhỏ dùng chung một WC.
Cả hai đều dùng được. Mái Mansard hợp tân cổ điển và cho thêm khoảng áp mái, còn mái Nhật hợp mặt tiền hiện đại, đường nét gọn hơn. Chọn kiểu mái theo phong cách chung của nhà và theo việc có cần thêm không gian áp mái hay không.
Được. Số phòng, hướng mái, kiểu cửa, màu sắc và chi tiết ban công đều chỉnh được. Mọi thay đổi nên duyệt trên phối cảnh trước khi triển khai hồ sơ.
Có, nếu mặt bằng đủ rộng và được tính từ đầu. Thang máy đặc biệt nên đưa vào hồ sơ ngay từ giai đoạn mặt bằng, vì hố thang ảnh hưởng đến kết cấu và vị trí các phòng.
Có hai cách. Đặt gara trong khối nhà ở tầng một, hoặc đặt riêng ngoài sân có mái che. Cách thứ hai giữ được diện tích tầng một cho phòng khách, bếp và phòng ngủ nhưng cần khuôn đất rộng.
Betaviet thực hiện thiết kế kiến trúc biệt thự và nội thất biệt thự cho các khu đất rộng, từ tân cổ điển đến hiện đại. Gửi kích thước khu đất, hướng đất và cách chia phòng ngủ mong muốn để được tư vấn, hotline 0915010800. Địa chỉ: Toà nhà Hải Ngân Building, Số 9 Đường Thanh Liệt, Phường Thanh Liệt, Hà Nội.


Tư vấn chuyên sâu bởi nhà thiết kế, giám đốc thi công nhiều năm kinh nghiệm
Giảm tới 30% 300tr
Đồ nội thất nhập khẩu
Hỗ trợ thủ tục pháp lý
cấp phép xây dựng
Betaviet sẽ liên hệ để tư vấn Quý khách trong thời gian sớm nhất
Trân trọng cảm ơn!